Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Lương Cường trao quyết định bổ nhiệm 16 đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại các nước nhiệm kỳ 2025 - 2028 _Ảnh: TTXVN
Quyết sách đột phá trong tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước
Nghị quyết số 59-NQ/TW được ban hành trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó lường, với nhiều yếu tố chưa từng có tiền lệ. Thách thức, rủi ro đan xen cùng thuận lợi, thời cơ trên hầu hết lĩnh vực, song khó khăn có xu hướng nổi trội hơn, đặc biệt là đối với quốc gia quy mô vừa và nhỏ. Giai đoạn từ nay đến năm 2030 được dự báo là thời điểm then chốt trong quá trình định hình trật tự thế giới mới, khi mức độ bất định, bất ổn và rủi ro gia tăng mạnh. Tình hình đó đặt ra cho Việt Nam một loạt thách thức lớn.
Thứ nhất, cán cân sức mạnh giữa các nước lớn trên thế giới, trong các liên kết quốc tế lớn tiếp tục dịch chuyển mạnh, thúc đẩy cục diện thế giới chuyển sang trạng thái đa cực, đa trung tâm rõ nét hơn.
Thứ hai, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo, nhưng chịu tác động và thách thức ngày càng lớn từ cạnh tranh chiến lược, bất ổn gia tăng.
Thứ ba, các cuộc khủng hoảng có khả năng xuất hiện thường xuyên hơn, với phạm vi ảnh hưởng rộng và tính chất đan xen, đồng thời gắn liền với các vấn đề an ninh phi truyền thống, như thiên tai, dịch bệnh, nghèo đói và bất bình đẳng.
Thứ tư, kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục duy trì tăng trưởng, song tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhất là từ cạnh tranh thương mại, biến động tài chính và gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thứ năm, sự phát triển mạnh của khoa học - công nghệ cùng quá trình chuyển đổi sang kinh tế số, kinh tế xanh mang lại nhiều cơ hội mới, nhưng cũng đòi hỏi quốc gia nắm bắt kịp thời để tránh tụt hậu, đồng thời giải quyết tốt vấn đề xã hội phát sinh.
Thứ sáu, khu vực châu Á - Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương tiếp tục là động lực tăng trưởng năng động, là thị trường hấp dẫn đối với nhà đầu tư và là tâm điểm của liên kết kinh tế mới, song cũng là khu vực diễn ra cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn.
Giai đoạn từ nay tới năm 2030 cũng là thời kỳ quan trọng, giai đoạn nước rút của cách mạng Việt Nam để đạt hai mục tiêu chiến lược vào năm 2030 và năm 2045. Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh, đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên vươn mình tới thịnh vượng, hùng cường, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, yêu cầu phát triển mạnh mẽ đất nước, đòi hỏi có tâm thế, vị thế mới và tư duy, cách tiếp cận mới về hội nhập quốc tế.
Nghị quyết số 59-NQ/TW ra đời thể hiện tầm nhìn chiến lược, toàn diện và định hướng của Đảng về thế giới và thời cuộc, tạo cơ sở phát huy mạnh mẽ vai trò tiên phong, trọng yếu và thường xuyên của công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Trên nền tảng đó, Việt Nam có điều kiện chủ động nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức và thúc đẩy phát triển trong giai đoạn hiện nay. Từ tinh thần của Nghị quyết số 59-NQ/TW, bước phát triển mới trong tư duy của Đảng thể hiện trên các khía cạnh sau:
Một là, bổ sung nhiều nội dung mới và định hướng mang tính đột phá, nhằm đáp ứng xu thế lớn của tình hình thế giới hiện nay và yêu cầu phát triển của đất nước. Điểm nhấn quan trọng nhất là việc nâng tầm và đẩy mạnh công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế, đặt ngang tầm với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, xác định đây là nhiệm vụ trọng yếu và thường xuyên; phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại, gắn kết chặt chẽ với quốc phòng và an ninh trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”.
Theo tinh thần đó, đối ngoại và hội nhập quốc tế trong kỷ nguyên mới phải phục vụ hiệu quả lợi ích chiến lược về an ninh, phát triển và ảnh hưởng, thông qua ba mũi nhọn chủ công. Quốc phòng, an ninh và đối ngoại giữ vai trò nền tảng trong bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; đồng thời, củng cố vai trò lãnh đạo, quản lý và nâng cao uy tín, vị thế của Đảng và Nhà nước. Ngoại giao kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, góp phần trực tiếp vào phát triển kinh tế - xã hội, hiện thực hóa các mục tiêu đến năm 2030 và năm 2045, tạo nền tảng để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Ngoại giao văn hóa, đối ngoại đa phương và lĩnh vực công tác đối ngoại khác tiếp tục góp phần quan trọng trong việc nâng cao vị thế, uy tín và hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế.
Hai là, quán triệt yêu cầu triển khai công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế một cách đồng bộ, chủ động, tích cực, toàn diện, sâu rộng, bảo đảm chất lượng và hiệu quả. Hoạt động đối ngoại cần được triển khai trên tất cả mặt trận, với sự tham gia đồng bộ của các trụ cột của nền ngoại giao, “binh chủng” ngoại giao: đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân, đối ngoại quốc phòng - an ninh, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa, đối ngoại đa phương, đối ngoại địa phương cùng lĩnh vực công tác liên quan, góp phần nâng cao vị thế và uy tín quốc gia. Lĩnh vực đối ngoại và hội nhập quốc tế phải được gắn kết chặt chẽ, bổ trợ lẫn nhau trong một chiến lược tổng thể, có trọng tâm, trọng điểm, hướng tới kết quả thiết thực và lâu dài cho đất nước.
Ba là, xác định hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, đòi hỏi Việt Nam thể hiện tinh thần của một “đối tác tích cực, có trách nhiệm”. Điều này không dừng lại ở việc tham gia hay hưởng lợi từ cơ chế hợp tác, mà còn yêu cầu chủ động đóng góp bằng sáng kiến và giải pháp thực chất, thực hiện nghiêm túc cam kết quốc tế để củng cố hình ảnh một đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Trên nền tảng đó, tư duy hội nhập phải chuyển mạnh từ “gia nhập, tham gia” sang “xây dựng, định hình”, sẵn sàng đảm nhận vai trò “nòng cốt, tiên phong, dẫn dắt, hòa giải” trong các vấn đề phù hợp với năng lực và lợi ích quốc gia - dân tộc. Việt Nam cần chủ động đóng góp trí tuệ và nguồn lực vào hoạt động gìn giữ hòa bình, thúc đẩy hợp tác và phát triển quốc tế. Đây là bước chuyển có ý nghĩa chiến lược, phản ánh sự trưởng thành về vị thế và tầm vóc của Việt Nam sau nhiều thập niên hội nhập quốc tế sâu rộng.
Bốn là, việc xây dựng, ban hành Nghị quyết thể hiện tinh thần kế thừa và phát triển linh hoạt, sáng tạo giá trị cốt lõi của đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới, phù hợp với tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn mới. Theo tinh thần của Nghị quyết, hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện của Đảng, cùng sự quản lý thống nhất của Nhà nước. Người dân và doanh nghiệp được xác định là trung tâm, lực lượng chủ công và đối tượng thụ hưởng trực tiếp thành quả của quá trình hội nhập quốc tế. Đây là định hướng quan trọng nhằm bảo đảm hội nhập mang lại lợi ích thiết thực, gắn chặt với mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.
Năm là, nhấn mạnh yêu cầu hội nhập quốc tế được xây dựng trên cơ sở phát huy nội lực giữ vai trò quyết định, đồng thời tranh thủ hiệu quả nguồn lực bên ngoài. Việc kết hợp hài hòa giữa nội lực và ngoại lực nhằm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường; thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững; hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; không ngừng nâng cao đời sống nhân dân và bảo đảm hạnh phúc của nhân dân. Từ tinh thần của Nghị quyết, cần tiếp tục thực hiện tốt việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam; tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia; nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của đất nước. Đây là định hướng quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.